Hortus Conclusus - Khép mình để tìm kiếm vẻ đẹp nội tại

Tựa đề bài viết thoạt nghe qua có vẻ trừu tượng, nhưng đó thực chất là điều mà các Hortus Conclusus đã trải qua từ khi bắt đầu xuất hiện. Để có được một chỗ đứng riêng trong lịch sử kiến trúc, các Hortus Conclusus đã chắt lọc cho mình những tinh túy trong giới hạn cho phép. Hay nói cách khác, sự khép mình của không gian buộc con người phải sáng tạo để tìm tòi nét đẹp ẩn sâu bên trong cái giới hạn tưởng chừng như vô nghĩa, bí bách và không lối thoát.

Trước hết hãy cùng nhau làm rõ khái niệm Hortus Conclusus. Theo tiếng Latin, Hortus là vườn nói chung, hoặc sân chơi; Conclusus có nghĩa là vây quanh, bao bọc. Như vậy có thể hiểu Hortus Conclusus là một khu vườn khép kín, phân định không gian trong ngoài. Trong nghệ thuật của Cơ đốc giáo thời Trung cổ, hình ảnh khu vườn luôn xuất hiện với tường bao quanh, làm nổi bật sự thuần khiết của không gian bên trong. Nó cũng có thể là một phép so sánh với khu Vườn Địa đàng, là mảnh đất có thể tái hiện thiên nhiên và củng cố sự hiện hữu của con người.

Trong tác phẩm The Anunciation, Fra Angelico miêu tả 
cảnh truyền tin của Đức Mẹ trong một khu vườn. 

“CUỘC SỐNG LÝ TƯỞNG” Ở VƯỜN BA TƯ

 

Sự xuất hiện

Bằng chứng sớm nhất về các khu vườn Ba Tư được ghi lại tại khu vực Cung điện ở Pasargadae, vào khoảng năm 600 TCN đến những năm cuối cùng của triều đại Cyrus Đại đế (559-30 TCN). Ý tưởng của các khu vườn Ba Tư thuở sơ khai dựa trên quan điểm của Hỏa giáo (Zoroastrian) phân chia vũ trụ thành bốn mùa hoặc bốn yếu tố - nước, gió, đất và lửa. Khu vườn Ba Tư là biểu hiện của những giá trị và khái niệm tối cao, được ví như cầu nối giữa hai thế giới vật chất và ý nghĩa.

Sóng nước rốt cuộc là của ai?

Đã từ bao giờ hoa văn sóng nước và mây trời cũng như cách phối màu hoàng bào trở thành biểu tượng "độc quyền" của triều đại nhà Thanh? Bất kỳ ai có chút kiến thức lịch sử căn bản về Trung Quốc cũng thừa sức để nhớ lại xuất thân của triều đại nhà Thanh, đó là các bộ lạc Nữ Chân ở trên lưng ngựa. Một dân tộc có nguồn gốc du mục sao lại có thể xem sóng nước như một đặc điểm nhận dạng văn hoá? 

Thực vậy, quá trình "toàn cầu hoá" có niên đại từ hàng chục ngàn năm trước công nguyên (từ thời con người hãy còn nhiều lông) chưa bao giờ ngơi nghỉ và lãnh thổ các tộc người liên tục thay đổi. Để nói được rằng hoa văn này là của riêng một dân tộc và cái khác là "đánh cắp văn hoá", trước tiên ta phải chắc chắn được khả năng truy nguyên về gốc rễ của một dân tộc - tức là về con người đầu tiên. Và thành thực mà nói, trả lời được câu hỏi này cũng khó tương đương với trả lời câu hỏi về cội nguồn của ... sự sống. 

Chấp nhận được ý tưởng nói trên là bước đầu giúp đỡ chúng ta trong việc xem xét hoàng bào nhà Thanh như một thực thể văn hoá phản ánh quá trình phát triển nhận thức của triều đại này. Giống như thước phim tư liệu trình bày sự thật khách quan, triều phục và hoa văn trên nó với các chiều kích phi vật thể, không nên trở thành một đồ vật để chiếm hữu, và giữ làm của riêng. 

Chơi như Aldo van Eyck

 

Là một trong những kiến trúc sư hiện đại tiêu biểu của Hà Lan, không chỉ nổi tiếng với phong trào cấu trúc luận, Aldo van Eyck còn cho thấy khả năng thiết kế sân chơi “mát tay" với hơn 700 sân chơi trẻ em trong suốt quá trình làm nghề. Xây dựng cho thế hệ “baby boom” (1946 - 1964), trong đô thị Amsterdam hậu chiến đang được tái thiết với nguồn lực hạn chế, những không gian hoang phế được tái kích hoạt thành các sân chơi sử dụng “bộ công cụ” hiện đại. Bao gồm những vật thể cao thấp khác nhau, “bộ công cụ” của Aldo phát triển từ các khung hình học cơ bản (chữ nhật, hình cầu, hình chóp, nón cụt) với vật liệu dễ tìm (thép, bê tông, cát,...) Nếu như vị trí và hình dạng khu đất xây dựng sân chơi đòi hỏi các bố cục khác nhau, bộ công cụ với cấu trúc đơn giản và khả năng tổ hợp linh động cung cấp giải pháp cho sự đa dạng không gian cần thiết đó. Cộng thêm ưu điểm của sản xuất hàng loạt, những sân chơi kiểu Aldo van Eyck nhanh chóng “phủ sóng” thành phố Amsterdam giai đoạn 1947 - 1978.